Bài đăng nổi bật

Ý NGHĨA ĐẠO TRỜI NGÀY MÙNG 9 THÁNG GIÊNG Mỗi năm, cứ đến ngày Mùng 9 tháng Giêng, toàn đạo Cao Đài đều thiết lễ Vía Thầy, Đức Ngọc Hoàng ...

Thứ Bảy, 22 tháng 1, 2011

ĐẠO NGHĨA HÒA BÌNH


ĐẠO NGHĨA HOÀ BÌNH

       Những năm đầu của Tiên Thiên Đại Đạo, Thầy đã dạy: “Lập Tiên Thiên Thầy trao gánh nặng”, nhưng hình như từ đó đến nay qua mấy thế hệ tiếp nối, chúng ta vẫn chưa được nghe sự xác định rõ ràng nào về cái “gánh nặng” mà Thầy đã trao cho phái đạo Tiên Thiên. Có xác định được “gánh nặng” dung chứa những gì trong đó thì chúng ta mới lập tâm thay nhau chung vai gồng gánh, chớ nếu không biết trong gánh  bao gồm những gì mà c “hò-dô-ta gánh !” thì cầm bằng gánh một gánh không, chẳng ơn ích cho ai cả. Và gánh nặng đó chính là: ĐẠO NGHĨA HOÀ BÌNH  mà hôm nay, nhân dịp Lễ Kỷ Niệm ngày Liên Hoan Cầu Nguyện Hoà Bình, tiện đệ xin mạn phép được hầu chuyện cùng quí vị về đề tài trên.

          Trong hai thập niên đầu của nền Đạo Cao Đài do nhiều nguyên nhân dẫn tới sự phân chi rẽ phái mà bản thân phái Đạo Tiên Thiên do Đức Chí Tôn dạy thành lập kèm theo dự ngôn về một Hội Thánh quyền pháp tương lai từ Đại Hội Thiên Hoàng mùng 8-9 tháng Giêng năm Giáp Tý (1924) tại Thiên Thai Tịnh là không thuộc hệ “nhất bổn tán vạn thù” ấy:

                   “Thầy truyền lập Tiên Thiên Đại Đạo,
                   Chuyển Ba Kỳ tái tạo phục nguyên;
                             Hậu sau ra đứng trước tiền,
               Cờ hồng lố dạng là điềm thới lai.
                   Nêu chủ nghĩa anh tài hào kiệt,
                   Con đứng đầu qui hiệp vạn linh;
                            
Cơ quan Hội Thánh hữu hình,
               Pháp quyền sứ mạng nhơn sinh bá Tòng.
                   Tòng, nhìn trẻ luống thương thay !
                   Thầy chọn giao con hiệp Bửu Tài;
                   Lập mối Tiên Thiên gầy quốc đạo,
                   Dựng nền chơn giáo hiệu Cao Đài”.

Cho nên, kể từ đó trở về sau, bằng vào sự vận chuyển của Huyền linh, cơ Đạo Tiên Thiên qui tụ được những bậc đại căn trong hàng Thất Thánh Thất Hiền và hình thành Bàn Chưởng Quản Tiên Thiên với sứ mạng hoằng khai Đại Đạo và cổ suý tinh thần qui nguyên, hoà hiệp chi phái, cụ thể qua các hoạt động mở mang Tịnh trường, Tinh đàn; liên giao hành đạo cùng với Liên Hoà Tổng Hội và công cuộc truyền đạo miền Trung. Đồng thời vận động toàn đạo cầu nguyện quốc thới dân an, hoà bình nhơn loại, điển hình là Đại hội Cầu Nguyện Hoà Bình tại thánh tịnh Bắc Đẩu Cung, núi Cấm, do Anh lớn Lê Thành Thân chủ trì cuộc Lễ hồi năm 1938. Hầu hết những hoạt hoạt động đó của các bậc tiền bối Tiên Thiên đều nhằm vào “gánh nặng” của sứ mạng vì “Đạo nghĩa Hoà bình” mà mãi đến năm 1968-1970 khi huyền linh chuyển lập Đài Ngưỡng Thiên, Đức Lý Giáo Tông mới ban cho bốn chữ đó để sử dụng cho Đại Hội Liên Hoan Cầu Nguyện Hoà Bình.


Vậy ý nghĩa đầy đủ của bốn chữ Đạo Nghĩa Hoà Bình là gì ?
          Đạo nghĩa 道義: Nguyên tắc đạo đức phải làm như một nghĩa vụ tất yếu. Hoà bình 和平: Sự yên ổn từ nội tâm đến ngoại cảnh; sự hoà hiệp thuận thảo. Đạo nghĩa hoà bình: Nghĩa vụ đạo đức phải làm là lập lại sự bình an cho nội tâm và bình an cho ngoại giới (thế giới bên ngoài).

          Nghĩa rộng: Bổn phận của người đạo Tiên Thiên là làm cho nội tâm được bình an, cầu nguyện và gieo rắc sự bình an cho mọi người nơi ngoại giới, như câu:
Tâm Hoà vạn vật cũng hoà,
“Tâm Bình thế giới gần xa đều bình”.

HOÀ BÌNH NỘI TÂM:

          Hoà bình nội tâm hay sự bình an nội tại là trạng thái tinh thần khoẻ mạnh, không băn khoăn, không căng thẳng, không phiền não bởi những tác động từ ngoại cảnh. Ngay từ buổi đầu lập Đạo, Đức Chí Tôn đã chiếu điển thấy rõ tính khí của mỗi con cái của Ngài, ít nhiều gì cũng huân tập những nghiệp xấu trải qua bao đời kiếp rồi, nên Ngài bèn ban cho bài Thánh ngôn về Sự Thương Yêu trước hết, kế đến là bài Ngũ Nguyện trong nhựt dụng thường hành, để con cái của Ngài tự mình chuyển tâm phàm ra tâm thánh; từ tâm loạn động ra tâm an định; từ tâm phiền não ra tâm bồ đề…để có đủ năng lực nhận lãnh sứ mạng hoằng khai Đại Đạo, phổ độ quần sanh. Do đó, chúng ta cảm nhận được ý nghĩa về năm câu nguyện rằng:
          Nhứt nguyện Đại Đạo hoằng khai, hay Nhì nguyện phổ độ chúng sanh đều phải do hàng “thế Thiên hành hoá” bằng xương bằng thịt đứng ra mở rộng, truyền bá Đại Đạo, chớ các Đấng Thiêng Liêng vô hình bất quá là mặc trợ thôi chớ có hoá thân xuống trần mà “hoằng khai” hay “phổ  độ” đâu ?

          Tứ nguyện thiên hạ thái bình hay Ngũ nguyện Tịnh Thất an ninh, chẳng lẽ các Đấng hạ trần dùng quyền phép hô biến cho thiên hạ thái bình âu ca lạc nghiệp trong khi “thiên hạ” cứ nổi loạn với nhau vì tranh giành quyền lợi ? Chẳng lẽ các Đấng giáng điển ban phép lành cho thánh tịnh, thánh thất, toà thánh được an ổn khương ninh trong khi nội tình chức sắc và bổn đạo nơi đó luôn cứ “thượng bất hoà hạ bất  mục” hay “thượng bất chánh hạ bất minh” ? Hoặc giả, chúng ta cứ yên trí rằng: “Cầu Thượng Đế từ bi ân xá /Nguyện Phật Tiên bố hoá điển lành /Hoà bình thể hiện háo sanh /Là cơ sanh hoá thuận hành cơ thiên” rồi ngồi đó chờ đợi chư Phật Tiên tu hành theo thiên cơ giùm mình; chờ đợi Đấng Thượng Đế bố đức háo sanh xuống để ân xá cho cái tội sát sanh triền miên của mình ?

          Chẳng lẽ Đức Lý Giáo Tông dạy lập Đài Ngưỡng Thiên với những thiết kế biểu tượng để mọi người nhìn cho đẹp mắt mà không mang ý nghĩa gì ?
Nếu có hàm chứa ý nghĩa thì ý nghĩa đó để dành cho chúng ta bàn luận trong lúc trà dư tửu hậu, hay là để chúng ta suy nghiệm và thực hành ngỏ hầu lập lại hòa bình ở nội tâm trước khi gieo mầm hòa bình nơi ngoại giới ? Đức Lý Giáo Tông dạy:

                   Để cho đời nghiệm sâu LÝ ĐẠO
                   Kêu chư hiền dựng tạo Đài tiền…”

          Năm 1970, trước ngày Đại hội Liên Hoan Cầu Nguyện Hoà Bình, Đức Lý Giáo Tông dạy về thiết kế chi tiết xây dựng Đài Ngưỡng Thiên, trong đó có những chi tiết tượng trưng cho lý đạo mà người tu chơn cần nghiệm sâu để từ cái “sự” thông suốt được cái “lý”, tránh những sai lầm trong việc tu tâm luyện tánh, như:


          1 Đài Ngưỡng Thiên đặt trên Hồ Bát Quái: Phía trên ám chỉ hướng Nam thuộc cung Ly , đàn Nam Giao tế Trời của vua chúa thời xưa đặt ở hướng Nam để vọng về hướng Bắc (Bắc Khuyết) thuộc cung Khảm để tế lễ. Ta liền thấy xuất hiện quẻ Thủy Hỏa Ký Tế 水火既濟.  

Ý nghĩa của quẻ Dịch nầy về chơn đạo là:

Luyện Mạng: Âm Dương giao hoà, tồn Tinh dưỡng  Thần, lửa (Thần) tiếp nhận được Khí nhờ nước (Tinh) hoá thành.

Tu Tánh: Mượn nơi hiểm trở khó khăn để tồn dưỡng cái đức sáng tâm linh, và rồi trở lại dùng cái sáng bên trong ấy mà chế ngự cái hiểm nguy thử thách bên ngoài. Tốt nhất là không tách rời hai cực cương-nhu, cứng-mềm, nên tuỳ thời mà hành xử để “phòng nguy lự hiểm”(ngăn ngừa sự nguy khốn, dự liệu sự hiểm trở). Với ý nghĩa đó, Đức Lý Giáo Tông dạy:

“Nơi Ngọc Sơn Quang nầy đã tạo nên lịch sử muôn đời cho giáo sĩ Cao Đài [Ly-Minh], vậy chư hiền hãy gìn lấy di sản tinh thần ấy, vì bọn quỉ vương luôn cám dỗ chư hiền, hăm he chư hiền để rồi tự tay chư hiền bôi xoá cả công trình gầy dựng từ lâu [Khảm-Hiểm]. Hội Thánh có hiểu chăng ? Chư hiền khá nghiệm suy…
 [Đàn cơ tại TT.NSQ 1968]


 2 Tầng dưới có 4 cửa, phía ngoài cửa có 4 trụ phướn Linh tượng trưng Tứ Tượng (Đông: Thanh Long, Tây: Bạch Hổ, Nam: Chu Tước, Bắc: Huyền Vũ), và nếu cộng thêm 1 trụ phướn trên đỉnh Đài nữa sẽ là biểu tượng cho Ngũ Hành (Đông-Mộc, Tây-Kim, Nam-Hoả, Bắc-Thuỷ và Trung ương Mồ-Kỷ-Thổ) hay Ngũ Khí triều nguyên, tức là tu luyện nguyên khí của Ngũ tạng làm cho nó trụ lại ổn định,

không bị hao tổn.

Sách Tính Mệnh Khuê Chỉ có ghi:
 “Thân bất động thì Tinh ổn định và Thủy triều nguyên.
Tâm bất động thì Thần ổn định và Hỏa triều nguyên.
Chơn tánh tĩnh lặng thì Hồn ổn định và Mộc triều nguyên.
Dục vọng không còn thì Phách ổn định và Kim triều nguyên.
Tứ đại bình yên điều hòa thì Ý niệm ổn định và Thổ triều nguyên”.
“Tinh Thần Hồn Phách Ý,
Hoà hợp tại Trung Cung,
Tĩnh cực Thiên Tâm hiện
Thần minh tự nhiên đến”.

NGŨ HÀNH


Còn Tứ Tượng theo Dịch lý thì Thái dương Hỏa, Thiếu dương Kim do Dương nghi sanh ra; Thái

âm Thủy, Thiếu âm Mộc do Âm nghi sinh ra.          




3 Chung quanh đỉnh Đài đặt 72 lư trầm hương và 36 lồng đèn hoa sen ở tầng dưới, cộng lại đều là số 9. Con số lão Dương nằm trên đỉnh của trục thẳng chính giữa trong Lạc Thơ. Lạc Thơ được ứng dụng vào nhiều lãnh vực, nhưng ở đây chỉ vào lãnh vực khắc kỷ tu thân để hoàn nguyên phản bổn. Số 5 (số sinh của Trời) ở trung tâm là chỉ nơi quê cha đất tổ, nơi đặt chữ Tín làm nền để nhân, nghĩa, lễ, trí căn cứ vào đó mà biến  hoá theo Thiên Tâm (chính giữa), đổi Hậu thiên trở lại Tiên thiên chính là tại Lạc Thơ. Người tu chơn đều căn cứ vào Lạc Thơ để điều chỉnh cho “tam ngũ  hiệp  nhứt “ hay “tam gia tương kiến”.



              
                LẠC THƠ
4 Hình tượng sáu rồng chung quanh đỉnh biểu tượng cho 6 hào trong quẻ Bát thuần KIỀN , ứng với câu “Thời thừa lục long, du hành bất tức ” trong bài Ngọc Hoàng Kinh. Sáu rồng ám chỉ 6 hào dương,  hào đầu gọi là “sơ cửu” đọc từ dưới lên trên. 

                  






Hào sơ cửu: Rồng còn tiềm ẩn, đức cương kiện mới chớm sinh, chưa dùng được. 

Hào cửu nhị: Cương kiện mà được trung chính; cương nhu tương đương nhau, tài đức trung bình như rồngvừa xuất hiện trên ruộng mà không để mất thiên lương, nên mới nói “lợi kiến đại nhơn”.

Hào cửu tam: Người quân tử suốt ngày cần mẫn với nhiệm vụ, đêm quán sát ưu khuyết, nghiêm khắc với mình thì không có lỗi. Hào cửu tứ: Đức kiện đã thành tựu, xét kỹ thời vận mà tiến thối. Người tu đơn thì đắc thánh thai chờ ngày thoát hoá, như rồng vượt khỏi vực sâu, không sợ lầm lỗi.

Hào cửu ngũ: Tài đức đủ đầy, vừa cương kiện vừa trung chính. Người tu đơn thì có nhị xác thân,

tuỳ nghi xuất nhập. Đây là lúc gặp được “đại nhân”
(cảnh giới thiêng liêng).

Hào thượng cửu (6): Cương kiện thái quá, biết tiến mà không biết thối giống như con rồng kiêu căng ắt chuốt lấy thất bại, tức có điều ân hận. Nên khi Đức Khổng Tử đọc đến đây, bèn thêm vào hào Dụng Cửu: “Kiến quần long vô thủ 見群龍旡首”: thấy bầy rồng không đầu. Không đầu không phải mất đầu mà là dấu đầu đi: cương quá phải nhu mới không bị sứt mẻ; tài đức quá phải khiêm tốn hạ mình hoặc ẩn dấu đi mới tồn tại, vì:
 “Có tài mà cậy chi tài,
     Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
     Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
     Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
[NGUYỄN DU].
         
5 Bên trong chính giữa tầng dưới của Đài, thiết kế hòn non bộ trên đó có cái tháp hình Thái cực sinh Lưỡng nghi, Tứ tượng, Bát Quái gọi là Linh Tiêu Tháp. Linh Tiêu tháp vừa biểu tượng cho vũ trụ quan Cao Đài vừa biểu tượng cho Thiên Tâm đều có trong mỗi người (tiểu vũ trụ) là “Linh Tiêu nhất tháp thị Cao Đài 靈 宵 一 塔 是 高 臺”.
Trong chúng ta, nếu ai tu cho đúng hai chữ “Cao Đài” thôi, cũng đủ cho “Thần khâm quỉ phục”
và “thoát tục siêu phàm” rồi ! Bởi suy ra hình tượng của hai chữ Cao Đài ta có trục Bắc Nam thẳng đứng, phần trên là CAO của “Cao như Bắc khuyết”, phần dưới là ĐÀI của “Đài tại Nam phương”:

 a)Trục dọc phần trên là một chiều tâm linh hướng thượng (tại Thiên); là “Cao thượng Chí Tôn Đại Đạo hoà bình dân chủ mục ”: Đức Chí Tôn ở trên cao, dùng linh điển giáng trần mở Đại Đạo với mục tiêu đem lại hòa bình và dân chủ.

Vậy chúng ta hiểu thế nào về chữ hòa bìnhdân chủ trong câu liễn ? Nếu chúng ta hiểu chữ hòa bình phản nghĩa với chiến tranh, dân chủ phản nghĩa với quân chủ, độc tài thì chẳng lẽ Đức Chí Tôn mở Đạo ra để hụ hợ công việc mà người đời trên thế giới đã và đang làm ? Nên chi, Hoà ở đây thuộc phạm vi tâm linh, là cái đạo trung hòa, được mô tả trong sách Trung Dung: “Hỉ, nộ, ai, lạc chi vị phát vị chi Trung; phát nhi giai trúng tiết vị chi Hoà 中; ”: Mừng, giận, buồn, vui chưa phát ra gọi là Trung; phát ra đều trúng tiết cả, gọi là Hòa. Nhưng thế nào là trúng tiết ? Là hợp với lễ phép, với trật tự trong khuôn khổ đạo đức. Thí dụ: Mừng vì sự tu hành tiến bộ của người khác; giận vì ta cứ lầm lỗi hoài; buồn vì nhơn sanh còn khổ; vui vì làm được việc thiện…

Bình là “Bình thường tâm 平 常 心”, ở vào thế “phục vị”, trung dung; trở về chỗ cũ của mình, như
kim của cán cân chỉ số 0 chính giữa, không thiên bên nầy không lệch bên kia. Tâm bình là tâm tĩnh lặng, không bị xao động bởi vọng trần; Tâm thường là tâm không dời không đổi, không diễn biến vô thường, ấy là chơn tâm hay Thiên tánh.

Còn chữ dân chủ ở đây có nghĩa như “nhân chủ”, vì dân cũng là nhân. Con người làm chủ chính mình, an nhiên tự tại nhưng không bị vật dục lôi cuốn hay che mờ tâm linh; mặt khác không bị nô dịch bởi bất kỳ đối tượng nào.

Thế nên, hoà bình, dân chủ theo chiều hướng thượng là chơn tâm trung chính, không thiên lệch bởi sự tương tác của vọng thức phàm trần như tham, sân, si và thất tình lục dục; đồng thời thật sự làm chủ-nhơn-ông lấy mình theo phương thức “Thầy là các con, các con là Thầy”.

b) Trục dọc phần dưới là chiều cộng thông nhân tình thế sự; là “Đài tiền sùng bái Tam Kỳ cộng hưởng tự do quyền 臺 前 崇 拜 三 期 共 享 自 由 權”:Tôn kính lễ lạy trước Bát Quái Đài sẽ hưởng chung quyền tự do trong Tam Kỳ Phổ Độ.

“Quyền tự do” đây không phải là “quyền tự do” trong Hiếp Pháp của Nhà nước qui định, vì nếu ai kính lạy Đức Cao Đài mà hưởng được quyền tự do thì có lẽ người ta sẽ ùn ùn nhập môn theo đạo Cao Đài hết rồi ! Cho nên “quyền tự do” ở cuối câu liễn
có nghĩa là sự giải thoát khỏi những nghiệp chướng ràng buộc thân tâm con người, để mãi mãi chuyển luân trong kiếp phù sinh, lặn hụp trong sông sầu biển khổ, có lúc nào tâm trí được tự do tự tại đâu ? Sống theo nếp sống đạo, không sanh sự thì sự không sanh, sự không sanh thì trái oan không buộc, trái oan không buộc thì không khổ đau; dụng sự khổ đau mà lo việc ích nhơn lợi vật thì khổ đau sẽ biến thành an lạc. Chỉ có cách bước theo năm bước hành đạo của Ngũ Chi: Tùng Khổ của Hiền, Thắng Khổ của Thần, Thọ Khổ của Thánh, Thoát Khổ của Tiên và Giải Khổ của Phật mới thật sự đạt tới mức Tuyệt Khổ, mới thật sự nhận lấy “tự do quyền” bằng chính công sức của mình chớ không phải tự dưng mà ai ban cho được.

Tóm lại, tất cả những biểu tượng ở Đài Ngưỡng Thiên đều là những trang Kinh Vô Tự để chúng ta quán sát và truy cầu nghĩa lý, từ đó rút ra những bài học về “Tâm pháp” để bổ sung cho đường lối song tu Phước Huệ của Tiên Thiên Đại Đạo. Khi đã hiểu và hành theo “Tâm pháp” ấy thì tự nhiên trạng thái hoà bình sẽ hiển hiện ở nội tâm, những nỗi băn khoăn, căng thẳng và sợ hãi sẽ biến mất để nhường chỗ cho an bình và hạnh phúc, làm tiêu điểm lan tỏa tinh thần đạo nghĩa hoà bình ra ngoại giới.

HOÀ BÌNH NGOẠI GIỚI:

Ngoại giới là thế giới bên ngoài, thuộc về tha nhân. Nếu nói thế giới (world) là hoàn cầu, địa cầu hay cả thế gian mhân loại thì rất xa vời, chúng ta mà đi gieo hạt hòa bình, thực hiện đạo nghĩa hòa bình cho thế giới theo nghĩa ấy là mông lung không tưởng, chẳng bao giờ có được. Cho nên thế giới mà ta muốn đề cập ở đây là cảnh giới ngoài đời, ngoài xã hội gần gũi ta nhất. Vậy Đạo Nghĩa Hòa Bình phải được thực hiện bằng cách nào ?

Ở phần trên, do quá trình tu thân khắc kỷ, ta có được hòa bình nội tâm, và bây giờ từ nội tâm hòa bình đó sẽ thể hiện ra ngoài trong những tình huống tiếp cận nhân tình.
          Đức Lý Giáo Tông dạy:
          “Đạo nghĩa hoà bình phải được đứng trên những sự tranh chấp thế nhân, bằng ngược lại chư hiền vô tình làm tay sai cho tà quái.
          Vậy hàng sứ giả hoà bình phải tìm lối Tiên mà đi trên muôn nẻo tục; đem đạo nghĩa hoà bình gieo khắp đó đây, tức là đem đạo vào đời.…
 [Đàn cơ tại NSQ năm1968]

          Đoạn Thánh giáo trên ta thấy có hai ý chính:
         
1. “Đạo Nghĩa Hoà Bình phải được đứng trên những sự tranh chấp thế nhân”:
Là không khuynh tả khuynh hữu, giữ vững ở vị thế Trung Hòa, thuần chơn vô ngã để có thể tiếp cận và đối thoại với cả đôi bên đang là đối tượng tranh chấp nhau giữa người nầy với người nọ; nhóm nầy với phe kia hay nước nầy với nước khác.

Người thực hiện Đạo nghĩa hòa bình còn là sứ giả của Thượng Đế mang thông điệp về sự bình an cho mọi người không phân biệt thân sơ, hèn sang, cao thấp, nên điều kiện cần có ở sứ giả là phải đầy đủ bản lĩnh kiên cường, bình tỉnh, nhẫn nại để vượt qua những trở lực trong quá trình thực thi sứ mạng. Nếu không sẽ dễ dàng bị chệch hướng sa vào vòng xoáy của sự phân tranh mà Đức Lý Giáo Tông gọi là “vô tình làm tay sai cho tà quái”.


 2.“Sứ giả hoà bình phải tìm lối Tiên mà đi trên muôn nẻo tục”:
Ta hiểu thế nào về cụm từ “tìm lối Tiên mà đi trên muôn nẻo tục” ? Nếu hiểu “lối Tiên” như đường Tiên, nẻo Tiên thì không ổn, vì chẳng lẽ: tìm “nẻo” Tiên mà đi trên muôn “nẻo” tục ? Nẻo Tiên, nẻo tục cách xa nhau, đâu có thể tìm được nẻo Tiên xong rồi bỏ đó, chuyển sang qua nẻo tục mà đi ? Thế nên, “lối Tiên” được hiểu là đường lối tu hành theo Tiên Đạo; trang bị cho mình đầy đủ hành trang do Cao Đài Tiên Ông ban cho để bước đi trên muôn nẻo đường đời, hóa độ nhơn sanh mà không sợ bị mùi tục lụy lây nhiễm vào mình.

Vậy “lối” của Tiên là gì ? Là những bài Kinh Vô Tự từ những biểu tượng trên Đài Ngưỡng Thiên đó ! Hàng sứ giả chỉ chiêm nghiệm ý nghĩa của những biểu tượng mà tu theo đó thôi, cũng đủ năng lực nội tại để “đem đạo nghĩa hoà bình gieo khắp đó
 đây, tức là đem đạo vào đời”  rồi. Nhưng thế nào là “đem Đạo vào đời” ? Dù là chức sắc, chức việc hay tín đồ của Cao Đài Tiên Thiên đều cũng đang sống chung đụng giữa trần đời trong những sinh hoạt thường nhật, cũng làm ăn, cũng  quan hệ   hội không khác chi người đời, có điều chúng  ta mang thêm trong mình sứ mạng “đem Đạo vào đời”, nên có những việc làm xem như ngược đời. Chẳng hạn như:

- Đời say, ta tỉnh. Chớ không phải “đời say ta cũng cố nên say”. Đời đục, ta trong. Chớ không phải thấy dòng đời đục cả ta lội xuống quậy đục thêm thì còn ai sống nỗi trong cuộc đời đó nữa ?

- Đời ích kỷ tranh hơn tranh thua; ta vị tha chan hòa nhường nhịn.

- Đời dối gian, vì lợi ích cá nhân mà không tôn trọng luật pháp nước nhà; ta thật lòng thượng tôn pháp luật, đặt quyền lợi của dân của Nước lên trên.

- Đời ghét ganh, đố kỵ hiền tài; ta mến mộ trọng dụng hiền tài.

- Đời dụng tư tâm chia rẽ, oán chạ thù vơ; ta lấy  công tâm đoàn kết thương yêu, bao dung tha thứ.

- Đời luôn tính toan mưu nầy chước nọ để được lợi mình hại người; ta luôn định tâm gieo tư tưởng lành cầu nguyện cho mọi người, cho thế giới chuyển mê thành giác, bình an trong cuộc sống đến ngày Long Hoa Đại Hội.

Đại khái theo “lối Tiên” là như thế, là đem Đạo vào đời, Đạo có sáng thì Nuớc mới vinh; không như “lối tục” là đem đời vào Đạo, làm cho hư danh Đạo, ố danh Thầy. Thế nên:

Đời không Đạo như thuyền không lái,
Đạo không đời, Đạo phải về đâu ?
Vì đời còn lắm bể dâu,
Đời xa bến Đạo để sầu triền miên” (?)

ĐOẠN KẾT:

          Một dân tộc được chọn để Đức Chí Tôn ban truyền nền Đạo Cao Đài là dân tộc Việt Nam, và nơi được chọn khai sáng nền Đạo là miền Nam nước Việt. Còn nơi mà Đức Chí Tôn chọn để phóng phát nguồn điển quang cầu nguyện hoà bình và đặt  định  sứ mạng vì “Đạo nghĩa hoà bình” là Ngọc Sơn Quang như thánh giáo từ năm 1938:

                   “Thầy hạ bút lập cơ tiền định,
                   Ngọc Sơn Quang chấn chỉnh Kỳ Ba;
                             Đồng tâm liên kết chữ HÒA
               Ngũ châu rỡ mặt, Đạo nhà vẻ vang”.
[ĐẠI ĐẠO Q.N L.L q.nhì 1938-Đàn cơ tại Ngọc Sơn Quang mùng 6.4.12]

 Vì lẽ nơi đây được chọn làm thí điểm cho “Đạo nghĩa hòa bình” theo “cơ tiền định”, nên Thầy dạy trong Kỳ Ba nầy, Ngọc Sơn Quang phải được chấn chỉnh toàn diện, nhứt là sự “đồng tâm, liên kết” để bảo đảm cho chữ “Hòa” được bền vững.

Trải qua 63 năm, nhưng lời dạy của Thầy vẫn in như mới. Có đồng tâm hợp ý mới có sự chung tay liên kết và thể hiện được chữ Hoà. Chớ như trong chúng ta khi tụ nhau lại để bàn bạc chung lo việc đạo mà kẻ thì dẫn “trâu trắng”, người thì cỡi “trâu đen”, mỗi người mỗi góc, bo bo bảo thủ quan điểm riêng của mình, không dung hòa dược ý tưởng của người khác nên không tìm ra được cái gì chung nhất; không
chứng minh được là chúng ta đang sống hòa bình với nhau trong một gia đình, trong một ban ngành của tổ chức tôn giáo thì lấy đâu ra tâm tư chí  thành chí kỉnh để cầu nguyện hòa bình cho thiên hạ; lấy đâu ra tư tưởng trọn lành để gieo bủa khắp chúng sanh ?

Cho nên, muốn có được sự “Đồng tâm liên kết chữ HÒA” như lời giáo huấn của Thầy thì trước hết chúng ta xem lại việc tu thân của mình bằng cách luyện cái Tâm theo 5 biểu tượng của Đài Ngưỡng Thiên như đã trình bày phần trên. Khi chơn tâm an trú chỗ trung hòa thì Thiên Tâm hiển hiện. Thiên Tâm hiển hiện mới ứng với câu “Thầy là các con, các con là Thầy” “Thầy là Cha của sự thương yêu” thì ít ra chúng ta cũng là con của Sự Thương Yêu. Do bởi sự thương yêu nên Thầy mới tạo ra càn khôn thế giới, thì chúng ta cũng do bởi sự thương yêu mới tạo ra sự hòa bình nội tâm và thực thi sứ mạng “Đạo Nghĩa Hòa Bình”, hẩu cho “Ngũ châu rỡ mặt, Đạo nhà vẻ vang”./-
THANH C ĂN
13.11 Canh Dần (2010)

xuân tâm an lạc


XUÂN TÂM AN LẠC
          Trước khi đi vào vườn Xuân Tâm An Lạc nằm trên mảnh đất đạo lý, chúng ta thử dạo qua công viên xuân cảnh đang bày trí trên mảnh đất trần đời, xem coi sắc thái hai vườn xuân nầy có khác nhau ở chỗ nào. Tuy phân ra hai vườn xuân tọa lạc ở hai nơi, chớ kỳ thực cũng nằm chung một chỗ, chỗ đó là tâm thức của người thưởng ngoạn; và vườn hoa xuân đời thì có nở có tàn, còn vườn hoa xuân đạo thì miên viễn tỏa hương.
          Đời của một người được chia làm bốn lứa tuổi, cũng như bốn thời kỳ của xuân, hạ, thu, đông: tuổi ấu thơ, tuổi thanh xuân, tuổi tráng niên và tuổi lão thành. Trong bốn lứa tuổi nầy, tuổi thanh xuân là thời kỳ lý tưởng nhứt cho mọi ước mơ và hưởng thụ. Nhưng đâu phải ai ai cũng trọn vẹn được niềm ước mơ, trọn vẹn được sự thụ hưởng của lứa tuổi thanh xuân ấy. Do đâu vậy ?  Do điều kiện cuộc sống và tâm lý của từng người khác nhau mà sanh ra cái cảm nhận khác nhau về tuổi xuân, về ngày Tết đang đến với mình.
          Nhìn chung, chúng ta thấy như là một dịp “đến hẹn lại lên”, Tết năm nào các đường phố, các công viên ở nhưng nơi thị tứ cũng đều rực rỡ cờ hoa; bàn tay khéo léo của con người đã góp công tô điểm cho ngày xuân thêm vẻ đẹp để mọi người cùng thưởng ngoạn. Suốt một năm làm lụng mệt nhọc, để rồi không ngần ngại vung tiền ra tiêu sái thỏa thích trong mấy ngày xuân mà người ta quan niệm “Chơi cho liễu chán hoa chê, cho lăn lóc đá, cho mê mẫn đời[NGUYỄN DU]. Đó là quan niệm của những người may mắn, ăn nên làm ra, có lắm của nhiều tiền nhưng chỉ biết có mỗi việc là sống đựơc hưởng thụ là hạnh phúc nhất trần đời đối với họ. Còn đa số những người cũng vất vã làm lụng quanh năm, sống được qua ngày đã là may mắn rồi, có đâu dư giả để sắm sanh đầy đủ trong ba ngày Tết cho cửa nhà, con cái, nói chi đến chuyện chè chén bỉ bàng hay vui chơi nơi những chỗ phồn hoa đô hội ? Cho nên để diễn tả cái tâm trạng bi quan của người nghèo khó lại sống trong vòng kềm tỏa bởi chế độ hà khắc của thực dân Pháp, vào dịp ngày hết tết đến làm gì có mùa Xuân, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:
“Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi Xuân đến gợi thêm sầu.
Với tôi, tất cả toàn vô nghĩa,
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau.
Ai đâu trở lại mùa Thu trước,
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng.
Với nhánh hoa tươi, muôn cánh rã
Về đây đem chắn nẻo Xuân sang.
Ai biết hồn tôi say mộng ảo
Gió Thu góp lại cản tình Xuân.
Có một người nghèo không biết Tết
Mang liều chiếc áo độ Thu tàn.
Có đứa trẻ thơ không biết khóc
Vô tình bỗng nổi tiếng cười vang.
Chao ôi mong nhớ ! Ôi mong nhớ !
Một cánh chim Thu lạc cuối ngàn”.

          Nghĩa khổ đau là gì ?  Khổ ở đây là chỉ cái cảm nhận những nỗi tủi buồn vì sự thiếu thốn, không đủ tiền mua quần áo mới cho con, sắm lễ lộc cho ông bà cha mẹ, tạc thù với bà con bè bạn ân nghĩa. Đau ở đây là chỉ cái cảm giác xót xa nhục nhã vì nỗi không tiền trả nợ để phải bị nhiếc mắng đủ điều. Có lẽ trong chúng ta, cũng có người đã từng trải qua cảnh ngộ nầy, xem như ngày Xuân, ngày Tết vô nghĩa, y như rằng ngày Xuân đã bị gió thu trong quá khứ hiện về “cản” lại, làm cho muôn cánh hoa mai rời rã mà người ta cứ ngỡ là những chiếc lá vàng rơi lả tả; làm cho đàn én lững lờ tản mác mà người ta cứ ngỡ là nhứng cánh chim của mùa Thu còn bay lạc đâu đây. Tuy nhiên, cho dù người ta ở vào hoàn cảnh nào chăng nữa, tâm trạng ngày đầu năm cũng tạm ổn định phần nào bởi phong tục chúc Tết lẫn nhau, đôi khi mang hình thức miễn cưỡng:
“Lẵng lặng mà nghe họ chúc nhau,
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu…”

          Nhưng đối với người biết Đạo tu hành như chúng ta thì có khác. Dù ở vào hoàn cảnh giàu hay nghèo, dư giả hay thiếu thốn đều cũng giữ tâm bình thường, an theo mỗi phận của mình để cùng chọn lựa sự chung vui có ý nghĩa như lời Đức Đông Phương Chưởng Quản dạy:
“Người tu chọn lựa sự chung vui,
Chia sớt niềm đau, chỗ ngọt bùi;
Kẻ đói, người no bao nở bỏ,
Những khi tiến mạnh, nhớ khi lui”
[TGST 1967 trang 100]

          Chắc có người sẽ hỏi: “Tôi nghèo khổ quá thì làm sao chung vui với ai được ?”. Xin thưa là được ! Được ở chỗ nào ? Ở chỗ chúng ta có cái TÂM XUÂN. Khi đã có cái Tâm Xuân thì mình có thể cùng chung vui, tạo ra sự AN LẠC cho mình và cho người khác. “Kẻ đói, người no bao nở bỏ”, là chia sớt niềm đau nỗi khổ, cảm thông, an ủi, động viên người nghèo để họ cùng cảm thấy an ổn trong lòng mà chấp nhận cuộc sống hiện tại và vững chí vươn lên. “Những khi tiến mạnh, nhớ khi lui”   cho dù chúng ta có được cái may mắn ăn nên làm ra, trong túi có rủng rỉnh tiền, nhà cửa có sênh sang thì cũng không quên những lúc túng cùng chạy ăn từng bửa. Có từng trải cảnh thiếu trước hụt sau mới thương người nghèo khó. Bởi vì, nếu chúng ta công nhận rằng: Tâm giác ngộ là tâm Phật, Tâm mê muội là tâm Phàm, thì cũng sẽ hiểu rằng: Tâm an lạc là Tâm Xuân sanh ấm áp, còn tâm phiền não là Tâm Đông tàn giá lạnh vậy.
          Nhưng con người cùng vạn vật vẫn phải chung chịu qui luật luân chuyển của bốn mùa chi phối, nên không thể nói có Xuân là Xuân mà không từng trải qua những ngày Đông tàn lụi.
Thật vậy, không có sự sinh thành hay phát triển nào mà trước đó không hề có sự hủy thể lụi tàn như triết học Max cũng đã từng khẳng định: “Sự vật sẽ không phát triển được, nếu nó không tự hủy diệt hình thức trước kia của nó”. Kiếp phù sinh của chúng ta cũng thế. Hình thức trước đây của chúng ta bị bao bọc bởi những lớp bụi của sự phỉnh phờ, tham lam, gian trá; của sự đố kỵ thù hằn; của sự đam mê vật chất, làm che mờ linh tánh của Trời ban nên không thể tự phát triển đến điểm hoàn thiện của một con người chính danh, nói chi tiến bộ lên hàng hiền nhân thánh triết. Chỉ có tỉnh giác giũ bỏ đi hình thức mê lầm trước kia, thoát ra cai vỏ ốc chấp ngã ngàn đời trước kia thì mới phát tiết được mầm Thánh thiện vươn cao từ chỗ sa đọa; mới thanh lọc được cõi lòng trở nên thanh thản bao dung không còn bợn nhơ của loạn ly sai biệt, cũng như mùa Đông lớp lá cũ già khô của cỏ cây đều rơi rụng nép mình tàng ẩn để mầm xanh khác sinh sôi nảy nở cho mùa Xuân sum xuê hoa lá.
Mượn Xuân cảnh ngoài đời để chỉ Xuân Tâm, có xuân tâm là có Xuân Đạo. Chúng ta suy ra từ những vế thi bài của Đức Chí Tôn dạy sau đây:
“Xuân phúc tải Kiền Nguyên chi đức,
Xuân thái hòa vạn vật chi cơ;
Xuân sang trước đã định giờ,
Xuân về cho trẻ phục sơ tánh lành”.

Xuân phúc tải Kiền Nguyên chi đức 春 覆 載 乾 元 之 德  có nghĩa là: mùa Xuân che chở cho cái đức Kiền Nguyên của Trời, vì hành vận bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông đều bao gồm bốn đức Nguyên Hanh Lợi Trinh, ứng với bốn đức của con người là Nhân Nghĩa Lễ Trí, mà mùa Xuân thuộc đức Nguyên. Nguyên là ban đầu, là đầu mối xuất phát của vạn vật, là tiền đề của mọi sự tốt lành. Tính chất Kiền Nguyên vốn mạnh mẻ phấn phát theo trật tự của tự nhiên, nên không vật nào mà Đạo Kiền không che chở, như bài kinh xưng tụng Đức Ngọc Hoàng, cũng ngụ ý mô tả cái đức Kiền Nguyên hay “Càn kiện cao minh” của Trời để người tu theo đó mà bắt chước làm theo Đạo Trời.
Chúng ta vừa nâng ly nhấp chung Thánh tửu, “men rượu” tượng trưng cho tâm chí thành, hòa cùng “men Đạo” là sự hiệp thông cùng Đức Chí Tôn, mà Đức Chí Tôn cũng chính là Đạo. Đạo thì bàng bạc khắp nơi, ngay cả ở quanh ta, chỉ vì dường như có dường như không nên nhiều khi ta không nhận ra được Đạo. Nhưng chung qui “Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp”. Lòng mình ở vào trạng thái chí thành thì có thần linh hiển trợ; có chí thành thì đức tin vững chắc; có tin Thầy tin Đạo thì mới tin tưởng lẫn nhau;  tin tưởng lẫn nhau thì không còn ranh giới của chấp nê bảo thủ rằng tôi đúng huynh sai, dung hòa được cái đúng sai tức là bổ cứu cho nhau không còn sai đúng, để còn lại sự hòa hiệp trong một khối tinh thần thống nhất mà thôi.
Hành vận của hơi thở vào ra của chúng ta đều rập theo hành vận của Đạo. Khi hành đạo hay đối nhân tiếp vật thì ứng dụng hòa khí yêu thương, làm mà như không làm; làm theo vô vi nhi dịch sử quần linh tức là “oát”; khi trở về nghỉ ngơi thì cõi lòng yên tịnh, tức là “triền”: Oát triền vô biên không lúc nào gián đoạn; phát ra, thâu vào rập ràng một cách tự nhiên ấy là cái đức của Kiền Nguyên, của “Càn kiện cao minh” vậy.

Xuân thái hòa vạn vật chi cơ 春 太 和 萬 物 之 基 có nghĩa là: nền tảng của vạn vật là mùa Xuân thái hòa, ứng với quẻ Thiên Lôi Vô Vọng của nửa tháng đầu năm, có nghĩa là chí thành chí chánh, không đảo điên vọng động. Quẻ trên là Càn kiện, tượng cho sự dũng mảnh tiến dương bên trong, lúc nào cũng nhất niệm thuần chơn không gián đoạn; quẻ dưới là Chấn động, tượng cho sự thể hiện hành vi đạo đức bên ngoài, lúc nào cũng tinh tấn, ý chí không thối chuyển.
Iching-hexagram-25
THIÊN LÔI VÔ VỌNG 天雷無妄
          Xuất phát từ ý nghĩa ấy, chúng ta muốn có xuân tâm an lạc thì phải quay về nguồn sống Đạo, thông cùng trời đất và hòa cùng muôn vật, cùng thiên nhiên. Cho thiên nhiên những gì nên cho, nhận nơi thiên nhiên những gì nên nhận, không vì lòng tham và sự hững hờ mà vắt kiệt sinh lực thiên nhiên, đáp trả thiên nhiên bằng những tử khí ô trược để rồi hủy hoại môi trường thiên nhiên và cũng chính là tự hủy hoại môi trường sống của mình.
Qua quan sát khí tiết của mùa Xuân, ta cảm nhận được cái đức Nguyên của Trời và hình tượng thái hòa trong vạn vật để sống cho hợp lý Đạo, trở lại tánh thiện ban đầu thì mùa xuân đối với chúng ta rất có ý nghĩa.
“Xuân cảnh thế đấu tranh hỗn loạn,
Xuân thiên nhiên soi sáng tâm điền;
Xuân Tâm hòa nhịp thiên nhiên,
Xuân Thiên Nhiên với Tâm Điền không hai.
Xuân sắc điểm nhân tài sứ mạng,
Xuân phong thừa ngọc bảng đề ghi,
Xuân về, xuân lại, xuân đi,
Thời gian vô tận, xuân thì vô chung.
Xuân khai thới trần hồng thưởng thức,
Xuân dịu hòa với đức hiếu sinh;
Xuân nầy con trẻ khai minh,
Hoàn thành sứ mạng trọn gìn Đạo Xuân”
[TGST 1973 tr 89-90]

          Tại sao Thầy nói Xuân cảnh ngoài đời chỉ có đấu tranh và hỗn loạn ?  Như chúng ta thấy đó, xuân cảnh của hầu hết người đời được tạo nên bởi sự bon chen  tranh cạnh. Về thân thể, thì ai cũng muốn cho mình luôn trẻ mãi lâu già, đẹp mãi với thời gian, nên phải dùng những phương dược quí hiếm để bồi bổ; những loại mỹ phẩm cao cấp để gìn giữ nét thanh xuân, chống lão hóa. Về nhà cửa, ai cũng muốn trang trí cho nhà mình được sum sê với những chậu hoa mai đắc giá, những bộ bàn ghế sang trọng, tủ thờ bằng gỗ quí có cẩn sa cừ, v.v.. Nếu mọi người đều sống theo tham vọng vật chất, bất chấp thủ đoạn để đạt yêu cầu cho bằng được thì chẳng hóa ra trường đời thành một cuộc hỗn loạn vì những đấu đá, vì những cạnh tranh với nhau sao ?
Đối với chúng ta, Thầy khuyên nên dựa vào ý xuân thiên nhiên để soi sáng mảnh Tâm điền, làm thế nào cho mảnh ruộng xuân tâm thật sự hòa cùng xuân cảnh thiên nhiên để thành một sắc xuân miên viễn. Khi ngắm nhìn xuân cảnh thiên nhiên, ta thấy:
“Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”[NGUY ỄN DU]

Nếu ta tự hỏi hình ảnh của đám cỏ non đang vươn lên, những cành hoa đang rộ nở kia đã nói lên điều gì, thì trong yên lặng của mảnh tâm điền sẽ lóe sáng lên câu trả lời rằng: mầm non nứt mộng đâm chồi, cành hoa nở nhụy bung cánh tỏa hương là do đúng thời đúng tiết nó phải sanh phải nở chớ không do cái gì khác. Hoa nở không vì khách thưởng xuân mà nở, lá rụng không vì Thu sầu mà rụng. Tự nó không khoe không cầu cho nên từ thời thượng cổ đến nay con người đã tốn biết bao giấy mực để ca tụng vẻ đẹp cao khiết của hoa lá cỏ cây.
          Thầy bảo: ai là nhân tài sứ mạng thì hãy trang điểm cho mình cái  sắc xuân thiên nhiên, và cỡi gió xuân ấy mà đi xem bảng ngọc có đề tên mình trong đó, không chỉ ở ba ngày Tết mà là từng chuỗi ngày, chuỗi tháng, chuỗi năm và đến cả chuỗi đời đề điểm xuyết sắc xuân nội tâm, mặc cho xuân thời tiết có đến có đi, có qua có lại, chúng ta vẫn xem xuân lòng là vô thỉ vô chung với thời gian vô tận. Như đã nói, mùa xuân là khởi đầu trong bốn mùa của một năm, là hình tượng đức Nguyên của Trời và đức Nhân của người, đức Nguyên hay đức Nhân cũng đều là đức hiếu sinh, chứa đầy tình yêu thương nhơn vật. Đức Chí Tôn dạy tiếp:
“Tình Tạo Hóa ban đều vũ trụ,
Đức háo sanh bao phủ càn khôn;
Chuyển luân nhật nguyệt vong tồn,
Cỏ cây vạn vật vô cùng hóa sanh.
Mùa Xuân ấy Trời dành vạn vật,
Mùa Xuân là tánh chất nước non;
Chuỗi đời trăm hạt xây tròn,
Xuân về xoa dịu hàn ôn chuỗi đời”
[TGST 1965 tr 16]

Nếu bảo rằng chúng ta tu theo Đạo Trời là phải tuân thủ luật thiên nhiên như loài hoa nở vì nở chớ không vì ai mà nở, rồi buộc chúng ta tu thân hành đạo vì tu thân hành đạo thì có vẻ mình biến thành vô tri vô giác sao ?  Việc tu hành, mình đã không vì danh vọng, cầu lấy tiếng khen và sự tôn kính; đã không vì lợi lộc, cầu lấy sự vinh thê ầm tử; đã không vì chức quyền, bon chen cầu lấy ngôi vị hữu hình; đã không vì trốn tránh trách nhiệm làm người cực khổ để cầu làm tiên làm thánh sướng hơn, thì tu hành để vì cái gì đây ? Nếu không vì cái gì thì khó tạo được động lực tinh tiến trên đường tu. Và đây, Đức Mẹ đã cho chúng ta biết nguyên do nào mà chúng ta cần phải lo tu:

“Buồn thương con trẻ mãi say mê,
Lặn hụp trần lao chưa chịu về;
Tứ khổ bốn tường giam trẻ mãi,
Làm con quên mất những lời thề.

Thề rằng xuống thế luyện linh đơn,
Hành đạo giúp đời tế độ nhơn;
Công quả, công trình tu luyện kỷ,
Vẹn tròn phận sự phục lai huờn”.
[TGST 1972-CQPTGL tr 52]

Thế nên, chỉ có tạo được Xuân Tâm thì mới có An Lạc. Cái tâm ví như thửa ruộng gọi là Tâm Điền 心 田, cũng căn cứ từ đó mà Ngài Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm mới nói “Phá điền Thiên tử xuất 破 田 天 子 出”, con Trời là Tiểu Hồn của vũ trụ, có nghĩa là  bỏ công ra khai hoang phục hóa thửa ruộng nầy, chúng ta sẽ thấy chữ Vạn của Phật, chữ Thậpcủa Chúa và chữ Chủ (vương ) trong “Lưỡng quang chủ tể 兩 光 主 宰” của Đức Cao Đài. Khi mảnh ruộng nầy được “soi sáng” thì rõ ràng trong ba ngôi Tam Tài có ta trong đó.  Thầy dạy tiếp:

“Thầy ngự trong lòng mỗi chúng sanh,
Chúng sanh giác ngộ biết tu hành;
Thương yêu mựa tách người khôn dại,
Điều độ đừng chia kẻ dữ lành.
Tiên Phật không riêng quyền với tước,
Thánh Thần chẳng lựa lợi hay danh;
Đạo tâm mới hiểu Tâm Xuân quí,
Xuân ở Xuân Tâm, Đạo sớm thành”.
[TGST 1969 tr 87]
          Nghe qua bài thi trên, chúng ta hiểu Thầy luôn ngự trong Tâm Điền, Tâm Xuân hay Tâm Đạo của chúng ta. Nếu không dọn dẹp mảnh ruộng tâm sáng sủa để cho cỏ dại của dục tình, của tham sân mọc lên làm che lấp chữ Phật chữ Chúa đi thì làm sao Thầy ngự trong đó được. Dọn cỏ nơi thửa ruộng ngoài đồng thì dùng chiếc phảng bằng thép mà phát, còn dọn dẹp cỏ dại nơi mảnh ruộng trong tâm thì phải dùng chiếc phảng trí tuệ mà phát, và cái phảng trí tuệ nầy được trui rèn bởi ngọn lửa tình thương; ngọn lửa tình thương được cháy lên từ nhóm than hồng của đức Càn Nguyên Cao Thượng Chí Tôn. Nhờ chiếc phảng trí tuệ nầy mà đám cỏ dại của tình thức tục trần không còn nơi nhen nhóm mọc lên để dành chỗ cho muôn hoa của từ bi hỉ xả bừng nở tỏa ngát mùi hương thánh thiện, giúp cho cuộc đời tu hành của mình và cả những cuộc đời liên hệ đều hưởng chung sự yên ổn và vui tươi. Bởi lẽ:
          Có tình thương thì không hờn giận, dễ tha thứ người làm lỗi với mình; không để bụng thù ghét người đố kỵ bài xích mình.
          Có tình thương thì không khinh khi kẻ nghèo hèn, khờ dại; không bợ đỡ người giáu có, khôn ngoan; cùng chung vai gánh vác công việc đạo, càng gian khó thì càng thương yêu đoàn kết nhau hơn:
“Nếu con giữ lập trường chánh đạo,
Nếu con gìn lời bảo Chí Tôn:
Nâng đứa dại, học người khôn,
Nhủ khuyên kẻ quấy, bảo tồn người nguy.
Gìn hạnh đạo từ bi, bác ái,
Thuận lòng Trời nhơn ngãi thương yêu;
Giữa cơn nắng sớm mưa chiều,
Bao nhiêu gian khổ, bấy nhiêu hợp quần”
[TGST 1965-CQPTGL tr 18]

          Có tình thương thì hay bao dung kẻ dữ và chiêu nạp người hiền, lấy vô lượng tâm mà dìu độ lẫn nhau. Cũng như mùa xuân vốn dĩ có dành riêng cho ai đâu ? Đức  Mẹ dạy : 
 “Xuân chẳng  riêng gì với một ai,
                   Cũng không Nam Bắc lại Đông Tây;
                   Xuân chung thiên hạ trong trời đất,
                   Riêng ở lòng con chốn cõi nầy”.
[TGST 1969-CQPTGL tr 96]

          Cũng trong những ngày Xuân, Thầy gợi cho ta nhìn thấy đất trời, cỏ cây hoa lá đều theo qui luật vận hành của vũ trụ dưới quyền năng của cán cân công bình Tạo Hóa, để sống theo lối an mạng thuận thời. tất cả những biến chuyển về may mắn hay rủi ro, bình yên hay bão tố, thạnh thời hay loạn thế đều do nhân quả đấp đổi mà thành hình. Tùy cảnh ngộ mà an theo. không oán Trời trách người khi sự kiện xảy ra không toại ý, rằng tại sao công lao tu hành của con như vầy mà phải gặp bao điều oan trái ? Không buồn tủi than van, rằng con chí tâm thành khẩn theo đạo như vầy mà phải cam chịu trong vòng túng quẩn, tai ương ?
          Đức Lý Giáo Tông chiếu điễn thấy tâm trạng của chúng ta cũng còn đang bối rối trước nẻo đạo đường đời, nên ban lời khuyến dụ:
“Đừng sợ khổ toan bề thối thác,
Đừng vì buồn mà lạc căn xưa;
Dày công trong kiếp muối dưa,
Thăng trầm có lúc, nắng mưa có hồi.
Càng biến chuyển càng bồi đạo hạnh,
Càng truân chuyên càng gánh gồng nhiều;
Mặc dầu trong cảnh hẩm hiu,
An vui số phận, dắt dìu đệ huynh”.
[TGST 1965 –CQPTGL tr 28]
          Trong những ngày đầu năm gặp nhau, ai cũng chúc cho nhau những điều tốt đẹp, mà lời chúc an vui cho mọi người, mọi nhà thì không thể thiếu. Nhưng đó chỉ là hình thức của phong tục, tỏ ý quan tâm đến nhau trong khoảnh khắc bắt đầu niên trình mới, chưa chắc niềm An Lạc thật sự ứng hiện đúng theo lời chúc. Tuy nhiên, đối với người tu học thì lời chúc ấy coi như là phương châm, là lời nhắc nhở cho việc tu thân ở thời điểm tiên khởi của xâu chuỗi năm có mười hai hạt. Thường thì ta nhận được câu: “Chúc huynh (tỷ)năm mới thân tâm an lạc”. Vậy cái “an lạc” nầy do tha lực thiêng liêng ban cho hay từ trong tâm phát ra ? Theo tôi là do cả hai, như hễ có cảm thì có ứng, có nhân thì có quả.
Đức Mẹ cũng xác định: “Tứ quí nhơn gian, Xuân tại thủ; bá niên thế thượng Đạo duy tân 四 季 人 間 春 在 首; 百 年 世 上 道 隹 新[TGST 1969-CQPTGL tr 96] : Trong bốn mùa của cõi người, mùa Xuân là đứng đầu; trăm năm ở trên đời, chỉ có Đạo là mới”. Tại sao Đạo là lý âm dương xoay vòng có trước khi tạo thiên lập địa mà lại nói là mới ? Thật ra “dưới ánh mặt trời không có gì mới cả”. Sở dĩ nói chỉ có Đạo là mới, vì Đạo là một thực thể vô hình mà người ta hay bỏ quên nó, cho nó là cũ. Nhưng cái cũ của từ thời vô thỉ ấy vẫn tồn tại tới bây giờ và mãi mãi, thì cái cũ ấy đâu phải là già nua; đã không già nua thì là trẻ thơ; đã trẻ thơ tức thị xuân xanh mà xuân xanh là hình tượng của sự bất đầu cho sự sống mới. Vậy Đạo không thể ví như Xuân Mới được sao ? Cho nên Thầy mới nói: “Đạo tâm mới hiểu Xuân Tâm quí. Xuân ở Xuân Tâm, Đạo sớm thành” là hàm ý đó.
Vậy, một năm được an lạc, một đời được an lạc là do đem Đạo vào Tâm, muốn cho Đạo vào Tâm thì làm theo của Đức Càn Nguyên của Đấng Đại Từ Phụ; làm theo ý nghĩa của quẻ Thiên Lôi Vô Vọng như đã trình bày bên trên, chúng ta sẽ thường xuyên có được XUÂN TÂM AN LẠC trong từng chuỗi ngày, chuỗi tháng, chuỗi năm và cả chuỗi đời vậy./-


THANH CĂN